Đường trung bình động (Moving Average – MA) là chỉ báo kỹ thuật mà hầu như bất cứ Trader nào cũng biết và cũng là một trong những chỉ báo đầu tiên bạn được tiếp cận khi đến với công việc Trading.
Theo thời gian, một số Trader mới sẽ dần lãng quên chỉ báo này để tiếp cận và thử nghiệm với hàng chục chỉ báo khác. Tuy nhiên, bạn có biết đối với các Trader lâu năm, đường MA là một trong những chỉ báo không thể thiếu trong quá trình giao dịch của họ. Thậm chí, không chỉ các nhà phân tích kỹ thuật mà các nhà giao dịch theo trường phái Price Action vẫn sử dụng đường MA như một trợ thủ đắc lực cho các quyết định giao dịch.
Vậy sức mạnh của đường MA thật sự đến từ đâu và tại sao nó lại có tầm quan trọng đến như vậy? Trong bài viết này, tôi sẽ giải đáp cho bạn đồng thời giúp bạn hiểu rõ về chỉ báo này.

Định nghĩa

Đường trung bình động (MA) đo lường mức giá trung bình của dữ liệu giá trong một khoảng thời gian tùy chọn. Đường trung bình 3 ngày đo lường mức giá trung bình trong 3 ngày và đường trung bình 10 ngày đo lường mức giá trung bình trong vòng 10 ngày. Tương tự như vậy, chúng ta có đường trung bình 50 ngày, 100 ngày, 200 ngày, v.v….

Mức giá ở đây không nhất thiết là giá đóng cửa mà có thể là giá mở cửa hoặc giá đóng cửa hoặc giá cao nhất, thấp nhất tuỳ theo mục đích phân tích của nhà giao dịch. Tuy nhiên, giá đóng cửa thường được sử dụng nhiều nhất.

Có 2 loại đường trung bình động phổ biến:
– Đường trung bình động giản đơn SMA (Simple Moving Average)
– Đường trung bình động hàm mũ EMA (Exponential Moving Average)

Đường trung bình giản đơn SMA (Simple Moving Average)

    • P1, P2, …., Pn: mức giá tính trung bình
    • n: số thanh nến

Ví dụ: Xét trường hợp sử dụng giá đóng cửa làm tham số tính.
– Mức giá đóng cửa 3 thanh nến gần nhất lần lượt là 19, 20, 21 => ta có mức giá đóng cửa trung bình = (19 + 20 + 21)/3 = 20 (mức 1).
– Khi thanh nến thứ 4 xuất hiện, Giá đóng cửa của thanh nến thứ 4 là 22 => ta có mức giá đóng cửa trung bình của 3 thanh nến gần nhất là thanh 2, thanh 3 và thanh 4 = (20 +21 + 22)/3 = 21 (mức 2)
– Tương tự khi xuất hiện thanh nến thứ 5, thứ 6, thứ n , …… ta có các mức giá đóng cửa trung bình tương ứng là mức 5, mức 6, mức n
– Nối các mức này lại với nhau => ta có đường trung bình
Số thanh nến (n) đo lường càng cao, đường trung bình càng mịn và ngược lại.

Ưu và nhược điểm đường trung bình động giản đơn SMA
– Ưu điểm: dễ dàng tính toán
– Nhược điểm: phản ứng quá nhanh với thay đổi của giá => sai số về xu hướng cao. Điều này có nghĩa là SMA sẽ phản ứng 2 lần, lần 1 là khi có một thanh giá cũ bị loại bỏ, lần 2 là khi có một thanh giá mới được thêm vào. (Xem video trong bài viết này để hiểu rõ)
Ví dụ: Ta xem xét Đường Trung Bình SMA với số thanh nến (n) là 5 thanh nến.
– Giả sử một loại cổ phiếu đang được giao dịch ở mức giá từ 80 – 90, đột nhiên có một thanh nến với giá đóng cửa tăng gấp đôi đạt mức giá 160 (nến breakout), lúc này đường SMA sẽ hướng lên. Với các thanh nến tăng đột ngột kiểu này thường báo hiệu cho một xu hướng theo hướng của giá đóng cửa thanh nến đó, trong trường hợp này là xu hướng tăng => ý tưởng giao dịch theo hướng mua (lệnh Buy).
– Xem xét giai đoạn của 5 thanh nến tiếp theo sau thời điểm xuất hiện của thanh nến tăng đột biến. Khi thanh nến thứ 6 của giai đoạn này xuất hiện, đồng nghĩa với thanh nến tăng đột biến nói trên bị loại bỏ ra khỏi giai đoạn xem xét trong công thức tính => đường SMA sẽ quay đầu hướng xuống => dễ tạo cảm giác thị trường quay đầu => làm sai lệch ý tưởng giao dịch
Đường trung bình hàm mũ EMA sẽ khắc phục được điều này.

Đường trung bình hàm mũ EMA

Ở đây, chúng ta sẽ không đi sâu vào cách tính toán cũng như ý nghĩa của các chỉ số trong công thức tính mà sẽ làm rõ mục đích chính của đường EMA trong ứng dụng thực tế.
Trong công thức trên có 2 chỉ số mà ta cần quan tâm đó là yếu tố “giá hiện tại” được thêm vào và giá trị của đường EMA cần tính toán được hạn chế sai số khi sử dụng giá trị của EMA thanh nến trước đó (EMA yest). Với 2 yếu tố này ta có thể hiểu đơn giản mục đích chính của đường EMA là cố gắng loại bỏ sai số của các thanh nến trong quá khứ làm ảnh hưởng đến xu hướng giá hiện tại.

Vậy EMA tốt hơn SMA và chỉ cần sử dụng EMA cho mọi trường hợp?
Thực tế thì không hẳn như vậy. Như giải thích ở trên, ta có thể hiểu điểm khác nhau cốt lõi giữa SMA và EMA là SMA thì phản ứng nhanh và sát với sự thay đổi của số thanh giá trong công thức tính do đó DỄ LÀM SAI LỆCH VỀ XU HƯỚNG còn EMA thì khắc phục được nhược điểm này.
– Vậy, nếu mục đích của bạn là xác định XU HƯỚNG CHUNG, bạn có thể dùng EMA

SMA phù hợp để đo lường phản ứng giá khi có đột biến (tin tức mạnh liên quan, thị trường quét stoploss, cá mập gom – xả hàng, v.v….)
Mặt khác, SMA cũng thường được sử dụng để đánh scalping hơn là EMA. Bởi lẽ, các chiến thuật scalping thường áp dụng ở các khung thời gian ngắn, việc chốt lời – cắt lỗ thường được thực hiện dứt khoát dựa trên các biến động giá và phản ứng của thị trường trong khoảng thời gian ngắn định sẵn. Trong trường hợp này, câu nói “Simple is the best” vẫn có giá trị riêng của nó. Thực tế, những thanh giá tăng – giảm đột ngột thường đóng vai trò quan trọng trong các quyết định ra – vào lệnh, rõ ràng đường trung bình hàm mũ EMA không phù hợp trong trường hợp này do tính chất loại bỏ phản ứng giá của nó như đã giải thích ở trên.
Mặt khác, công thức tính của SMA rất đơn giản, dễ tính toán. Ý nghĩa cốt lõi của điều này là nó phản ứng thật và gần nhất với biến động giá của thị trường mà Nhà Giao Dịch có thể cảm nhận ngay được, đặc biệt ở các khung thời gian ngắn.

EMA phù hợp để xác định xu hướng chính: Khi nói về xu hướng nghĩa là ta đã loại bỏ (không quan tâm) những xu hướng nhỏ (giai đoạn điều chỉnh) trong xu hướng lớn chính.
Giai đoạn điều chỉnh thường là khi một bộ phận tham gia thị trường thực hiện chốt lời, cắt lỗ, khớp giá lệnh chờ, kiểm định giá, v.v…. Những ảnh hưởng này thường không ảnh hưởng đến xu hướng chung do các phe (bán, mua) liên quan sẽ dần bị loại bỏ để cuối cùng thị trường tiếp tục di chuyển theo xu hướng chính. Đường EMA bám sát kịch bản này và “cố gắng” loại bỏ các phản ứng giá của các giai đoạn điểu chỉnh để giữ cho xu hướng chính không bị nhiễu.

Tâm lý thị trường

Đường Trung Bình Động thể hiện bức tranh tổng thể của thị trường trong giai đoạn giá cần xem xét. Các mức giá thể hiện sự đồng thuận của đám đông cả phe mua và phe bán. Mức giá bình quân thể hiện sự đồng thuận trong khoảng giá xem xét và đường Trung Bình Động đo lường điều này.
– Khi Đường Trung Bình Động hướng lên, nó cho thấy thị trường đang lạc quan, đám đông đang sẵn sàng trả giá cao hơn mức giá hiện tại và điều này đẩy giá thị trường đi lên. Quan điểm này sẽ càng được củng cố nếu khối lượng tương ứng tăng dần đều.
– Khi Đường Trung Bình Động hướng xuống, nó cho thấy thị trường đang bi quan, một bộ phận phe mua đang phân vân với mức giá hiện tại, đứng ngoài quan sát. Mặt khác, một bộ phận phe bán đã mua hàng trước đó bắt đầu tiến hành chốt lời. Việc phe mua tạm thời đứng ngoài thị trường và phe bán xả hàng bán ra chốt lời sẽ tạo ra các mức giá giảm dần, đường Trung Bình MA đo lường mức giá bình quân trong trường hợp này và sẽ cho kết quả hướng xuống.

Vùng Giá Trị

Đường MA dài ngày đo lường sự đồng thuận về giá của đám đông trong dài hạn và đường MA ngắn hạn đo lường sự đồng thuận về giá của đám đông trong ngắn hạn. Khoảng cách (chênh lệch) của 2 đường này được xem là Vùng Giá Trị, là “vùng giá hợp lý” của công cụ tài chính (cổ phiếu, cặp tiền, v.v….) đang xem xét
Giải thích:
Trên thực tế, các mức kháng cự, hỗ trợ không phải là các mức cố định mà sẽ dao động trong một khoảng giá nhất định. Do đó, khi xem xét các mức cản này, ta nên xem xét chúng như các “Vùng hỗ trợ động” và “Vùng kháng cự động”.
Về bản chất, các “vùng hỗ trợ”, “vùng kháng cự” là khu vực mà tại đó diễn ra sự giằng co về giá cả giữa phe mua và phe bán, có 3 trường hợp xảy ra tại các vùng này:
– Những người đã mua ở mức giá tốt trước đó đến thời điểm bán chốt lời.
– Những người bị kích thích bởi thấy giá có vẻ rẻ sẵn sàng mua vào tại mức giá này (mua vì lòng tham)
– Những người đã lỡ mua ở mức giá cao sẵn sàng thoát hàng để cắt lỗ (bán vì sợ hãi)
Tất cả những người thuộc 3 trường hợp này đều có tâm lý chung là thấy “giá có vẻ hợp lý” để đưa ra quyết định vào lệnh. Từ đây, hình thành nên “vùng giá trị” là “vùng giá hợp lý” được đồng thuận bởi đám đông tham gia thị trường.

Các quy tắc giao dịch với Đường Trung Bình Động MA

Từ bây giờ, khi nói về Đường MA, chúng ta ngầm hiểu rằng bao gồm đường SMA và EMA. Việc sử dụng 1 trong 2 đường này phụ thuộc vào mục đích, ý tưởng giao dịch của Trader. Sau đây là một số quy tắc giao dịch với đường MA bạn có thể xem xét:
– Khi đường MA hướng lên, ta chỉ nên giao dịch theo hướng người mua.
– Khi đường MA hướng xuống, ta chỉ nên giao dịch theo hướng người bán.
– Điểm vào lệnh tốt nhất là mức giá nằm trong vùng giá trị.

Hiểu về sức mạnh của Đường MA

Bản chất về sức mạnh của đường MA nằm ở việc hiểu rõ cách đo lường và ý nghĩa của nó. Khi bạn tìm hiểu về các chỉ báo kỹ thuật khác, bạn sẽ nhận ra rằng hầu hết đều được xây dựng dựa trên cách thức hoạt động của đường MA (Bollinger Band, MACD, Ichimoku, v.v…..)
Nếu tư duy một cách đơn giản, ta có thể đi từ bản chất vấn đề bằng việc sử dụng đường MA như công cụ cần thiết để kết hợp với các chỉ báo khác.
Hiểu được cách hoạt động của đường MA khi áp dụng thực tế đồng nghĩa với việc chúng ta đọc vị thị trường có cơ sở, không mông lung hay thần thánh hoá các chỉ báo kỹ thuật liên quan.