nhiu quc gia, báo cáo về lượng cung tiền đều do các ngân hàng trung ương phát hành. Lượng tiền lưu thông phthuc vào mc lãi sut tái cp vn. Lãi suất này tăng thì lượng cung tiền cũng tăng. Các ngân hàng trung ương kiểm soát tlcung/cầu đối với đồng ni tbng các công cca chính sách tin t. Ví dụ, ngân hàng trung ương có thể quy định tldtrbt buộc cho các ngân hàng thương mại và in thêm tin giy và tiền xu (bơm thêm tiền vào lưu thông).

Cung Tiền được đặc trưng bởi các chstng tin: M0, M1, M2, M3.

M0 = tin mặt trong lưu thông (tiền giy và tin xu);

M1 = M0 + tin trong tài khon vãng lai và tài

khon tin gi không khn, séc du lch;

M2 = M1 + tin gi có khn và tin gi tiết kim;

M3 = M2 + chng khoán chính ph.

Cung Tiền ↑ = ↑ Tỷ giá hối đoái

Các báo cáo về lượng cung tin ca Mỹ được Cc DtrLiên bang công bhàng tun vào ngày thứ Năm và chúng không có nhiều ảnh hưởng ti thị trường Ngoi hi. Chỉ có các nhà đầu tư dài hạn là quan tâm đến chsnày và dùng chúng trong vic lp kế hoch các khoản đầu tư trong thời hn vài năm.

Trong những năm 1990, Cục DtrLiên bang Mỹ đã thử tìm cách gây ảnh hưởng lên nn kinh tế Mbng cách thay đổi lượng cung tin trên thị trường nội địa. Nhưng sau đó, họ đã từ bchính sách này và quyết định sdng lãi sut tái cp vn như là công cụ cơ bản trong chính sách tin tệ để kim soát nn kinh tế.

Vlý thuyết, khi lượng cung tiền tăng lên thì nó scó những tác động tích cc lên nn kinh tế, nhưng trên thc tế, nguyên tc này không phi lúc nào cũng đúng. Nhìn chung các nhà kinh tế đều thng nht với quan điểm rằng tăng cung tiền stạo động lc cho kinh tế phát triển nhưng đồng thời nó cũng gây ra lạm phát; đến lượt mình, lạm phát làm tăng lãi suất và làm đồng ni tệ tăng giá. Nhưng cũng có quan điểm khác cho rng việc tăng lượng cung tin làm giảm lượng cầu tương ứng; và đến lượt mình, nó làm gim sc mua của đồng ni tệ, nghĩa là khiến đồng ni tgim giá.