Nghiên cứu tâm lý đã chỉ cho chúng ta thy rng con người không phải lúc nào cũng đưa ra những quyết định hợp lý, đặc bit nếu họ không có được đầy đủ thông tin khi làm việc đó. Những người mi tham gia thị trường Ngoi hi dành quá nhiu thi gian suy nghĩ về nhng quyết định họ đưa ra thay vì làm việc chăm chỉ để nm bt các tin tc và dbáo vthị trường. Hchtiếp cn thị trường qua vic theo dõi các trng thái ca mình mà thôi. Mi ln giá cdin biến theo chiều hướng có li là hcm thấy thư thái như được hít mt lung không khí tươi mát, còn ngược li, mi ln giá cdin biến bt li là hlại có lý do để tự trách móc mình đã phạm sai lầm.

Mc phi sai lm do thiếu cân nhc là chuyn bình thường vn xy ra với con người. Như George Soros tng nói trong cun sách ni tiếng Alchemy of Finance(Tm dch: Gikim thut tài chính) ca mình, ông chnhn thức được đầy đủ rng các quyết định giao dịch mình đưa ra quan trọng như thế nào và rng tài sn ca nhiều người phthuc vào chúng ra sao sau khi quỹ đầu tư mà ông quản lý đã được nhân lên đến vài triệu đô-la. Yếu ttâm lý có tác động như nhau đối vi cnhững nhà đầu tư đã có kinh nghim ln những người va mi bắt đầu. Giá ca các sn phm tài chính trên thị trường cũng không chỉ đơn thun là nhng giá trshc, bi nó phthuộc vào quan điểm ca những người tham gia thị trường. Cung và cầu cũng hình thành nhờ nhng yếu ttâm lý.

Tự tin thái quá

Hãy cùng nhìn li nhng lần chúng ta chơi trò đoán mặt xp nga của đồng xu. Kinh nghim cũng như thử nghim cho thy mọi người có xu hướng đặt cược trước khi đồng xu được tung lên chkhông phải sau khi nó đã nằm trên mặt đất nhưng chưa ai được biết kết quả. Nếu suy nghĩ một cách lô-gic thì tại hai thời điểm đó rủi ro thua cuộc là như nhau. Thế nhưng dường như việc đặt cược trước khi có kết quả thực sự sẽ dễ dàng hơn rất nhiều bởi khi đó chúng ta có thể tưởng tượng ra bất cứ điều gì. Kinh doanh trên các thị trường tài chính cũng vậy – khi mở một trạng thái giao dịch, nhà kinh doanh sẽ hình dung những biến động của giá cả dựa trên biểu đồ dữ liệu giá. Nhưng chỉ sau khi một mức Cắt lỗ khác bị phá vỡ thì anh ta mới nhận ra rằng trạng thái của mình đã được mở và khi đó chỉ có mặt thuận lợi được xem xét đến còn tất cả những bất lợi đã bị bỏ qua. Các nghiên cứu cho thấy trên 82% các nhà giao dịch nghĩ rằng các kỹ năng của họ đạt hoặc trên mức trung bình. Vậy cho phép tôi đặt một câu hỏi: “Nếu 82% nghĩ rằng họ khá hơn số đông, vậy thì số đông đó là ai?”

Tự tin thái quá là đặc điểm ca phn ln các nhà kinh doanh tài chính. Họ nghĩ rằng mình có tháp dng nhng gì mình biết tốt hơn bất kai và chc chc rng hsthành công. Cảm giác vượt trội hơn so với người khác khiến hmrt nhiu trng thái mi, thế nhưng không may thay, phần ln trong schúng đều kết thúc trong thua l

Tự tin thái quá cũng có nghĩa là chấp nhn ri ro thái quá. Như John Nofsinger nói, chúng ta chấp nhn ri ro cao bi chúng ta quá ttin rng mình có đầy đủ thông tin vtình hình thị trường và rng quyết định ca chúng ta là khách quan.

Nếu tôi hi bạn: “Xác suất có được mt 4 khi gieo mt con xúc xc là bao nhiêu? Gần như chắc chn rng bn strlời: “1:6”. Nhưng nếu tôi nói rằng “chúng ta đã tung được mặt 4 năm lần rồi” thì bn có thstrli rng xác suất có được mt 4 nếu chúng ta gieo con xúc xc ln th5 sẽ cao hơn (mặc dù một vài người có thể suy nghĩ theo hướng ngược li). Các con strên con xúc xc xut hin theo trình tngẫu nhiên, nhưng chúng ta thì lại thường ghi nhchúng. Ký c ảnh hưởng ti các quyết định ca chúng ta trong tương lai. Có được mt chui giao dch thành công khi va mtài khon lần đầu tiên skhiến những người mi bắt đầu kinh doanh tự đánh giá quá cao vbản thân cũng như chấp nhn mc ri ro cao hơn, và điều đó chắc chn sẽ ảnh hưởng ti nhng giao dch sau này.

Tính toán cảm tính (Mental accounting)

Khi nghĩ về nhng giao dch thành công trong quá khứ, các nhà kinh doanh thường sử dụng cái gọi là Tính toán cảm tính (Mental Accounting). Thuật ngữ này được đưa ra và áp dụng lần đầu tiên bởi Nobel Laureate Richard Thaler. Trong tính toán có cả phần lợi nhuận lẫn thua lỗ và các nhà đầu tư thường nhìn nhận hai phần này rất khác nhau và rất duy ý chí xét từ quan điểm kinh tế học. Một thí nghiệm được thực hiện bởi các nhà tâm lý học Hal Arkes và Catherine Blumer đã chỉ ra những hình mẫu rập khuôn (sterotypes) hàng ngày ảnh hưởng tới các quyết định của chúng ta như thế nào. Những người tham gia thử nghiệm phải trả lời những câu hỏi sau:

Một gia đình nọ có được mt své tham dmt trn bóng rmà họ mong đợi tlâu. Chi phí ca mt vé là $40. Vào ngày trn bóng din ra, có một cơn bão tuyết. Gia đình này vn có thể đến sân vận động, nhưng nó ở khá xa, giao thông thì khó khăn còn trời thì rt lnh. Vậy trong hai trường hp, mt là gia đình này đã mua nhng tm vé và hai là họ đã có được chúng trong một trò chơi xổ sthì liu gia đình này có mong muốn đến xem trận đấu vi mức độ như nhau hay không? 

Phn ln những người tham gia đều trli rng mong muốn đến xem trận đấu sẽ cao hơn trong trường hp gia đình đó mua những tm vé. Chi phí của chúng đã ảnh hưởng đến quyết định ca h. Nếu mua chúng, scó thêm một “chi phí mang tính tâm lý” nữa và chính nó góp phần làm tăng nhu cầu muốn đến xem trận đấu. Nếu mua nhng tm vé và không thsdng chúng, bn scm thy không thoi mái, thm chí bt an. Kết quả là, gia đình đó cui cùng squyết định đi xem trận đấú.

Yếu tthời gian cũng rất quan trng trong quá trình ra quyết định:

Có mt trận đấu bóng rsdin ra vào ngày hôm sau và cả gia đình đã chờ đợi nó khá lâu. Vào ngày trận đấu din ra tri bng đổ bão tuyết. Gia đình này vẫn có thể đến xem trận đấu, nhưng không ai muốn ra ngoài trong thi tiết như vậy c. Liu hcó mong mun đến xem trận đấu nếu đã mua vé với giá $40 tmột năm trước đây như là hchva mi mua chúng ngày hôm qua?

Trong trường hp này câu trli li là nhng tm vé được mua ngày hôm trước scó giá trị hơn so vớnhững tấm vé đã mua từ một năm trước đây. Xét từ phương diện tâm lý học, giá trị của những tấm vé giảm đi cùng với thời gian, và đó là lý do tại sao ta có thể dễ dàng bỏ qua những tấm vé mua từ một năm trước nhưng lại hào hứng với tấm vé mới mua ngày hôm qua.

Rủi ro

Mức độ sn sàng chp nhn rủi ro cũng có thể được gii thích bng stính toán cm tính. Richard Thaler đã chứng minh rng kết quca nhng tình huống tương tự nhau xy ra trong quá khsdn đến nhng quyết định khác nhau trong tương lai, phthuc vào bn thân nhng kết quả đó. Những phần thưởng không mong đợi được hiểu như một dng vn ri ro (risk capital). Thnghim vi các sinh viên trong lp kinh tế hc ca mình, Thaler nhận được kết qulà tlhọc sinh chưa nhận được phần thưởng nào từ trước đồng ý cá cược 4,5 đô-la là 41%, trong khi đó tỷ lhọc sinh đã có được phn thưởng 15 đô-la đồng ý cá cược 4,5 đô-la thì cao hơn – ti 77%.

Thaler cũng chứng minh được rng, vic thua cược mt stin nhslàm gim mong mun cá cược với những điều kiện công bằng xuống gần 0 trong khi việc thua cược một số tiền tương đối lớn lại tăng mong muốn cá cược lên dù điều kiện của nó không công bằng nhưng đổi lại, phần thua sẽ được hoàn lại trong trường hợp thắng cuộc. Những người cá cược hy vọng rằng một khoản thua lỗ nhỏ nữa cũng sẽ không ảnh hưởng lớn tới tình hình.

Mt hiện tượng khá thú vnữa cũng xảy ra khá phbiến vi nhiều nhà kinh doanh đó là họ thường mong muốn đóng một trng thái giao dịch đang có lãi càng nhanh càng tốt và ngược li, duy trì mt trạng thái đang bị thua lcàng lâu càng tt. Hersh Shefrin cho rằng hành vi đó là đặc điểm ca tt ccác nhà kinh doanh, kcnhững người muốn đi xa hết mc có thln những người không mun mo him nhiu.

Nếu bn clần lượt đóng hết các trng thái có li và duy trì nhng trng thái thua l, bn sbị đánh la bi cm giác rằng mình đang an toàn và không bị ảnh hưởng bi thua lỗ. Đằng sau hành động này còn là nim tin rng nếu thị trường din biến theo chiều hướng ngược li thì tt cnhng trng thái đang gây thua lỗ strthành có lãi. Lô-gíc khách quan nói rằng một nhà kinh doanh nên cố gắng tối đa hóa lợi nhuận từ những trạng thái có lời, và ngược lại, đóng những trạng thái không có lợi càng sớm càng tốt. Nhưng trong thực tế giao dịch, giả định hợp lý này lại sai lầm.

Một phân tích đối vi trên 10.000 tài khon giao dịch được mti mt công ty môi gii đã chỉ ra rằng các nhà kinh doanh đóng các trạng thái có li nhanh hơn rất nhiu so vi các trng thái thua l. 33% các trng thái có li và 16% các trng thái thua lỗ được đóng ngay sau khi cuộc thnghim bắt đầu. Nói cách khác, nhà đầu tư lựa chọn đóng các trng thái giao dịch đang có lời thường xuyên hơn gấp hai ln so vi la chọn đóng các trạng thái đang thua lỗ có cùng khối lượng.

Điều chỉnh và neo đậu (Adjustment and Anchoring)

Quan nim ca một nhà đầu tư về li nhun và thua lcó thxy ra phthuc vào quan nim ca nhà đầu tư đó về chi phí ca tài sn ti thời điểm mua vào. Tt cnhng yếu tố như giá mua vào của tài sn, sự thay đổi giá ctrong quá trình shu, giá bán tài sn, bn cht ca tài sn (là tin, bất động sản hay dạng tài sản nào khác) đều có ảnh hưởng tới quyết định của nhà đầu tư về thời điểm bán ra. Một cổ phiếu được mua vào đầu năm với giá 50 đô-la và đến cuối năm có giá 100 đô-la. Một vài tháng sau đó nó được bán với giá 75 đô-la. Nhà đầu tư thu lợi nhuận thực 25 đô-la. Thế nhưng nhà đầu tư này có thể cảm thấy không thoải mái về mặt tâm lý dẫn đến đánh giá tiêu cực về kết quả kinh doanh, anh ta cho rằng mình đã thua lỗ. Một trong những lý thuyết cổ điển về quá trình ra quyết định đã được phát triển bởi Daniel Kahneman và Amos Tversky được gọi làĐiều chỉnh và Neo đậu.

Bn strli câu hỏi sau như thế nào?

Năm 1896, chỉ sTrung bình Công nghip Dow Jones (DJIA) là 40 điểm. Cuối năm 1998, nó đạt 9181 điểm. DJIA được tính toán bng cách ly trung bình trng sgiá ca các cphiếu thành viên, ctức không được tính đến. Vy thì chsDJIA vào cuối năm 1998 sẽ là bao nhiêu nếu tt cctức đều được đem vào tính toán?

Câu trli là 652.230. Ngạc nhiên không? Nhưng thc ra bn không cn phi ngạc nhiên đến thế. Ở đây bạn chỉ đang trải nghiệm tác động của sự Điều chỉnh và Neo đậu mà thôi. Khi nghĩ về câu trả lời, hầu như bạn chỉ nghĩ tới con số đầu tiên (40) và con số thứ hai (9181) đồng thời cố gắng đưa ra một con số gần với con số thứ hai.

Mt nhà kinh doanh không nên bqua yếu ttâm lý mà ngược li, nên cgng hiểu chính mình hơn, nm bt những động cơ của bản thân cũng như học cách kim soát cm xúc. Bn cn liên tc phân tích tình hình thị trường và cố tránh để yếu ttâm lý tác động tiêu cc lên quyết định giao dch.